(TN&MT) -Theo kịch bản biến đổi khí hậu (BĐKH) của tỉnh Đồng Nai đến năm 2100, BĐKH tác động đến các sông của tỉnh Đồng Nai do sự tăng lên về nhiệt độ, thay đổi lượng mưa, gia tăng lượng bốc hơi và nhu cầu sử dụng nước vào mùa khô. Các khu vực sông nhạy cảm với BĐKH như: Sông Đồng Nai khu vực hợp lưu sông Bé - sông Đồng Nai, sông Đồng Nai đoạn chảy qua thành phố Biên Hòa và sông Thị Vải. Các khu vực cạn kiệt nước vào mùa khô: Suối Rết, suối Lức, huyện Cẩm Mỹ; suối Gia Huynh, huyện Xuân Lộc.
 
Xét trên phạm vi toàn tỉnh, tổng diện tích đất có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi ngập mặn (đến năm 2020) 76,27km2. Trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 20,76km2 (chiếm 0,44% diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh), diện tích đất phi nông nghiệp có nguy cơ bị ảnh hưởng chiếm 42,66km2 (chiếm 3,52% diện tích đất phi nông nghiệp toàn tỉnh). Diện tích đất bị ngập mặn thuộc các huyện Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom, Vĩnh Cửu và thành phố Biên Hòa. Trong đó, huyện Long Thành có diện tích đất chịu ảnh hưởng lớn nhất (31,5km2) và ít nhất là huyện Trảng Bom (3,87km2).
 
Về tác động do BĐKH đến sinh kế và sức khỏe cộng đồng, có khoảng 43% người dân sinh sống trong khu vực thường xuyên bị hạn hán, tập trung chủ yếu tại các xã Thiện Tân, Mã Đà (huyện Vĩnh Cửu) và xã Lang Minh (huyện Xuân Lộc); 39% người dân sinh sống trong khu vực thường xuyên bị ảnh hưởng do ngập lụt, tập trung chủ yếu tại xã Phước Khánh và xã Phước Thái (huyện Nhơn Trạch).
 
Ảnh hưởng của BĐKH đến độ đa dạng sinh học của 03 khu vực: Khu Bảo tồn Thiên nhiên Văn hóa Đồng Nai; rừng thuộc phạm vi quản lý của Công ty TNHH MTV La Ngà; rừng ngập mặn huyện Long Thành và huyện Nhơn Trạch thì phạm vi thay đổi của nhiệt độ và lượng mưa theo các giai đoạn 2020 và 2050 không gây tác động tiêu cực cho độ đa dạng sinh học của các khu vực này.
 
Đồng Nai triển khai nhiều chương trình trồng cây xanh, góp phần ứng phó với BĐKH
 
 
Trên cơ sở kịch bản những tác động của BĐKH, các giải pháp ứng phó với các lĩnh vực đã được tỉnh Đồng Nai đề xuất như sau:
 
Khai thác hp lý và bo v tài nguyên nước
 
Tiếp tục xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống các hồ chứa (thủy lợi và hồ chứa của các nhà máy thủy điện) theo quy hoạch, làm nhiệm vụ chống lũ cho hạ du, tích nước cho mùa cạn và góp phần đẩy mặn ở khu vực hạ lưu trong mùa cạn.
 
Xây dựng cơ chế chia sẻ nguồn nước hợp lý, vì đây là lưu vực có sự chuyển nước ra ngoài lưu vực nhiều nhất.
 
 Tăng cường năng lực cấp nước để đáp ứng nhu cầu dùng nước gia tăng, xây dựng thêm các nhà máy cấp nước, lấy nước trực tiếp từ dòng chính sông Đồng Nai song song với việc củng cố, nâng cấp các nhà máy cấp nước hiện có; phát triển các cống tưới tiêu, các trạm bơm nước, nâng cấp các hệ thống tưới tiêu.
 Xây dựng các công trình điều tiết nước trên địa bàn tỉnh đồng thời nâng cấp cải tạo, sửa chữa hệ thống đê điều, cống thoát nước… 
 
Tăng cường các biện pháp bảo vệ chất lượng nước, ngăn ngừa ô nhiễm nguồn nước từ các nguồn thải công nghiệp và sinh hoạt, bảo đảm, các nguồn nước thải phải được xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi đổ vào nguồn tiếp nhận.
 
Thường xuyên tiến hành kiểm tra các cơ sở sản xuất có nguồn nước thải, xử phạt nghiêm với những trường hợp cố tình vi phạm quy định về xả thải vào nguồn nước.
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, lịch canh tác để thích ứng với tình trạng khan hiếm nước trong mùa khô. Áp dụng kỹ thuật tưới tiên tiến nhằm tiết kiệm nước, tuyên truyền giáo dục ý thức tiết kiệm nước sử dụng nước hợp lý, có hiệu quả.
 
Thực hiện Quy hoạch thủy lợi đến năm 2010 và định hướng quy hoạch phát triển thuỷ lợi đến năm 2020.
 
Thực hiện dự án Quy hoạch hệ thống thoát nước và xử lý nước thải khu dân cư, khu công nghiệp lưu vực hệ thống sông Đồng Nai đến năm 2030.
 
Tăng cường đu tư  h tng k thut
 
Lĩnh vực công nghiệp: Được xem là góp phần quan trọng trong việc phát thải các khí nhà kính, tác nhân gây BĐKH. Do đó, biện pháp hữu hiệu nhằm ứng phó BĐKH trong lĩnh vực này là giảm, ngăn ngừa phát thải, sử dụng nhiên, nguyên liệu và năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Đối với các cụm công nghiệp bị ảnh hưởng bị ngập lụt theo kịch bản của BĐKH, các đề xuất bao gồm: Nghiên cứu quy hoạch, bố trí các khu công nghiệp ngoài vùng bị ảnh hưởng; sử dụng các công cụ kinh tế thúc đẩy phát triển công nghiệp ngoài vùng bị ảnh hưởng. Nâng cao nhận thức doanh nghiệp đối với các tác động của BĐKH lên một số ngành công nghiệp cụ thể và ảnh hưởng của các ngành công nghiệp lên hệ sinh thái địa phương. Trang bị và bảo vệ cơ sở vật chất sản xuất dễ tổn thương do tác động BĐKH.
 
Trong lĩnh vực xây dựng, BĐKH với biểu hiện gia tăng nhiệt độ, lượng mưa làm gia tăng nhu cầu điều hòa không khí trong các gia đình. Do đó, lĩnh vực xây dựng cần hướng tới khả năng tạo không gian thoải mái, trong lành cho các công trình…
 
Đối với lĩnh vực giao thông vận tải, theo tài liệu đánh giá, đề xuất các nội dung cần ưu tiên nghiên cứu cho chương trình khoa học và công nghệ nhằm ứng phó với BĐKH, các giải pháp có thể áp dụng cho Đồng Nai: Nghiên cứu đánh giá thiết lập tiêu chuẩn thiết kế cho cơ sở hạ tầng phục vụ cho giao thông vận tải như cầu, đường, cống nước, đê chắn nước… thích ứng với lũ và BĐKH. Nghiên cứu quy hoạch phương tiện giao thông công cộng và tuyến đường giao thông đối phó với tình trạng ngập lụt. Nghiên cứu nâng cấp và thiết kế cảng biển phù hợp với mực nước tăng cũng như bảo vệ giao thông đường thủy và cơ sở hạ tầng.  Nạo vét kênh rạch lưu thông đường thủy bị tắc nghẽn do bồi đắp và bờ sông bị phá hủy do tác động của BĐKH.
 
Trin khai đng b nhiu gii pháp sinh kế
 
Giải quyết tốt vấn đề di cư từ nông thôn đến thành thị: Trong những năm gần đây, số lao động di cư từ nông thôn ra thành thị ngày càng tăng. Mặc dù đáp ứng một phần nhu cầu lao động và đóng góp cho sự phát triển của các đô thị và khu công nghiệp nhưng phần lớn rất dễ bị tổn thương do các biến đổi kinh tế - xã hội. Vấn đề di cư đóng vai trò trong việc xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế. Do vậy, cần một chính sách tập trung để tối ưu hóa các lợi ích tiềm năng của di cư cho bản thân người di cư và cho xã hội nói chung.
 
Giảm dòng di cư tự do thông qua đẩy nhanh tiến độ đô thị hóa và phát triển mạnh các khu kinh tế vệ tinh và các làng nghề nhằm thu hút lao động nông thôn tại chỗ, tạo sự liên kết kinh tế giữa các khu công nghiệp với nông thôn, giữa sản xuất công nghiệp với nông nghiệp và dịch vụ, đặc biệt là cần khai thác mối liên kết kinh tế giữa các thành phố lớn với các khu vực phụ cận, nhất là các vùng đệm cho thành phố (về mặt dịch vụ, các khu sản xuất đặt ở nông thôn,...) nhằm giảm thiểu di cư. Phát triển mạnh doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó có làng nghề và kinh tế trang trại nhằm tăng giá trị sản phẩm theo hướng xuất khẩu và hình thành các thị trường nông sản ngay tại địa phương, đồng thời cũng tạo ra thu nhập và việc làm ổn định hơn. Cần đầu tư nhiều hơn cho chính sách khuyến công, khuyến nông cả về cán bộ kỹ thuật lẫn cơ sở vật chất để công tác chuyển giao kỹ thuật tới người nông dân đạt hiệu quả cao nhất.
 
Tăng cường cung cấp thông tin tại cấp xã cho lao động di cư, đặc biệt là thông tin về việc làm và thị trường lao động (thông tin về nơi đến, cơ hội việc làm, thủ tục đăng ký, khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội và hỗ trợ xã hội...) để người lao động có các quyết định đúng đắn hơn trước khi đi, tránh được những rủi ro do thiếu thông tin hay thông tin sai lệch.
Chính quyền đô thị nên có biện pháp hữu hiệu và phù hợp hơn trong việc đáp ứng nhu cầu nhà ở cho người nhập cư. Do đó, cần có các quy định đối với các doanh nghiệp phải bảo đảm chỗ ở cho người lao động gần trụ sở của mình và theo quy hoạch chung, không để họ rơi vào tình trạng thuê nhà không đủ điều kiện sống tối thiểu. Tăng cường quản lý về trật tự an ninh xã hội trong vùng có đông người lao động di cư. Cần có quy định khi quy hoạch các khu công nghiệp phải có quỹ đất và danh mục đầu tư cho xây dựng nhà ở cho công nhân và các khu dịch vụ.
 
Tăng cường tạo việc làm bền vững thông qua đào tạo nghề, bồi dưỡng, tuyên truyền kiến thức về kỹ năng sống cho người lao động. Lao động trẻ nông thôn hiện nay không chỉ thiếu chuyên môn mà cả kiến thức xã hội, giao tiếp cộng đồng. Đối với họ, dạy nghề không thôi chưa đủ mà cần đưa cả kỹ năng sống vào chương trình giảng dạy, giúp họ có được tác phong làm việc nghiêm túc, tuân thủ kỷ luật lao động và có tinh thần đồng đội khi làm việc ở bất cứ môi trường nào. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh công tác tư vấn hướng nghiệp ngay từ trường phổ thông.
 
Cần lập một bộ phận chuyên trách có chức năng theo dõi, trợ giúp, hỗ trợ, quản lý lao động di cư tại cả nơi đi và nơi đến thông qua việc thêm chức năng cho UBND các xã, phường, các trung tâm giới thiệu việc làm và cơ quan lao động địa phương.
 
Tú Nguyn
 
Phó giám đốc Sở TN&MT tỉnh Đồng Nai - ông Nguyễn Ngọc Thường: Đề xuất trung ương hỗ trợ đồng nai ứng phó BĐKH
 
- Tổ chức đào tạo, tập huấn nghiệp vụ về ứng phó với BĐKH, có lồng ghép với quy hoạch sử dụng đất, đánh giá môi trường chiến lược.
- Hỗ trợ trang bị, hướng dẫn, chuyển giao công nghệ sử dụng các phần mềm chuyên ngành để cập nhật kịch bản về BĐKH, theo dõi diễn biến các hiện tượng khí tượng thủy văn, các tác động của BĐKH ở địa phương gắn với chương trình quan trắc môi trường.
- Hỗ trợ kinh phí từ nguồn ngân sách Trung ương để thực hiện nhiệm vụ “Chương trình kiểm kê hiện trạng phát thải khí nhà kính thuộc các lĩnh vực sản xuất công nghiệp và các lĩnh vực khác trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và đề xuất biện pháp giảm thiểu”.